image banner
Một số làng nghề truyền thống huyện Thủy Nguyên
Theo các vị cao niên trong làng, ca trù xuất hiện ở Đông Môn gần 200 năm nay. Vào thập niên 40-45 của thế kỷ trước, trong làng xuất hiện nhiều giáo phường do những gia đình, dòng họ đứng ra thành lập và lấy nghiệp hát làm nghề kiếm sống…
Một số làng nghề truyền thống huyện Thủy Nguyên


Làng ca trù Đông Môn, Thủy Nguyên

Theo các vị cao niên trong làng, ca trù xuất hiện ở Đông Môn gần 200 năm nay. Vào thập niên 40-45 của thế kỷ trước, trong làng xuất hiện nhiều giáo phường do những gia đình, dòng họ đứng ra thành lập và lấy nghiệp hát làm nghề kiếm sống…

Người đưa ca trù về Đông Môn

Cùng với loại hình nghệ thuật hát đúm, Thuỷ Nguyên được biết đến như một cái nôi của hát ca trù của vùng Duyên hải bắc bộ. Vào thời điểm hưng thịnh, hát ca trù được coi là một nghề kiếm sống cho hàng trăm người dân ở Đông Môn, xã Hoà Bình (Thuỷ Nguyên). Theo ông Trần Bá Sự - nguyên Chủ nhiệm CLB ca trù Đông Môn - ca trù xuất hiện ở đây từ đầu thế kỷ XIX. Và người đưa ca trù về Đông Môn là cụ kép đàn Tô Tiến Trọng - trùm phường của một giáo phường Kinh Môn (Hải Dương) thuộc ty giáo phường Bắc Thạch (Bắc Ninh). Được sự đồng ý của giáo phường Kinh Môn, ông trùm phường Tô Tiến Trọng đã rước 2 bức tượng ông tổ nghề là Đinh Dự thanh xà đại vương và Mãn đường hoa công chúa cùng bản sắc phong về phủ từ Đông Môn - là nơi đền thờ tổ nghề của cả vùng Duyên hải bắc bộ. Ông là người dạy ca trù cho người thân trong họ, các dòng họ tại địa phương và biến làng Đông Môn trở thành một ca quán của cả một vùng duyên hải.

Vào những giai đoạn từ năm 40-45 của thế kỷ trước, hát ca trù ở Đông Môn trở thành một nghề kiếm sống của nhiều dòng họ lớn trong làng như: Tô, Phạm, Nguyễn… Những đứa trẻ lớn lên đã được ông, bà truyền nghề trở thành “ca nương”, “kép đàn” cùng với đó những dòng họ, gia đình đứng ra thành lập các giáo phường chuyên đi biểu diễn tại các tỉnh thành Hà Nội, Thái Bình, Quảng Ninh, Nam Định… “Sau khi được ông Tô Tiến Trọng dạy cho nghề hát ca trù, nhiều gia đình, dòng họ tự đứng ra thành lập các giáo phường (bố đàn con hát, cháu đánh trống). Do diện tích đất canh tác bấy giờ ít, những đứa trẻ trong làng lớn lên biết đọc, biết viết đều trở thành những “đào nương”, “kép đàn”, “quan viên”. Nhiều dòng họ, gia đình mở các giáo phường đi hát kiếm sống ở trong và ngoài thành phố” - một vị cao niên trong làng nhớ lại.

Ca trù Đông Môn hồi sinh

Do chiến tranh loạn lạc, năm 1950, ca trù Đông Môn bị dần mai một. Với mong muốn bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc, năm 1993 chính quyền địa phương đã đứng ra thành lập CLB ca trù Đông Môn với sự đóng góp của nghệ nhân hát ca trù Tô Thị Chè (dạy hát), ông Tô Văn Nghị (kép đàn) và rất nhiều người đam mê ca trù cùng tham gia. Ông Trần Bá Sự nhớ lại: “Nhận thấy môn nghệ thuật truyền thống của ông cha ngày càng bị mai một, làng đã xin chính quyền xã thành lập CLB lưu giữ và truyền lại nghề cho các lớp con cháu trong làng. Những ngày đầu thành lập, do thiếu người chúng tôi đã vận động toàn bộ đội tế nữ, tế nam của đình vào hoạt động. Nhạc cụ trang bị cho CLB những ngày đầu là hiếc đàn đáy mua của ông Nguyễn Văn Hãn ở Hải Phòng về sửa lại, trống và phách do thành viên trong CLB đóng góp tiền trang bị cho việc dạy học và sinh hoạt của CLB…”.

Sau gần 20 năm hồi sinh và phát triển, nhờ được sự dạy bảo của các nghệ nhân tâm huyết với ca trù, đến nay CLB ca trù Đông Môn đã dần tìm lại vị thế của mình. Đó là, ca trù Đông Môn đã được diễn tại Nhà văn hoá trung tâm (nay là Trung tâm văn hoá thành phố) và tại đình Văn Môn; ca trù đã được đưa vào trường học, tham gia các liên hoan ca múa nhạc ở trong và ngoài thành phố; và công trình nghiên cứu tìm hiểu “ca trù Hải Phòng” của Hội văn học dân gian Hải Phòng. Nhiều “ca nương”, “đàn kép” của Đông Môn đi thi đều được giải cao như: chị Tô Thị Ninh, nhiều “kép đàn” hay như anh Hoàng Minh Khánh, Tô Văn Tuyên.

Bà Tô Thị Chè được nhà nước phong tặng nghệ nhân hát ca trù. Bên cạnh đó, những lớp thế hệ con cháu Đông Môn được học hỏi để gìn giữ những giá trị văn hoá của quê hương. Và đây cũng là niềm tự hào của người dân Đông Môn, một địa phương duy nhất của Hải Phòng có nhiều em học sinh biết hát ca trù, đánh phách như em Phạm Thị Liên đã đoạt huy chương vàng ca múa nhạc dân tộc Hải Phòng năm 1996. Nhiều em trong làng được tuyển chọn tham gia vào lớp đào tạo ca trù do ngành văn hoá tổ chức.

 Làng nghề hương thơm Kiền Bái, Thủy Nguyên


Những ngày này dọc các con đường ở xã Kiền Bái (Thủy Nguyên) đầy những nong phơi tưm tre đỏ rực xòe như đóa hoa trăm nghìn cánh. Khắp trong nhà, ngoài ngõ, đâu cũng thấy màu vàng của bột hương, màu đỏ của chân hương…

Nằm ngay trên trục đường chính của xã, cơ sở sản xuất hương thơm Thanh Lâm với gần chục công nhân đang tất bật làm việc. Người thì se hương, phơi hương, đóng gói… Thoăn thoắt se hương cùng các nhân công, bà Nguyễn Thị Lâm, chủ cơ sở chia sẻ: “Người làm hương bận rộn quanh năm. Nhưng càng gần Tết việc lại càng nhiều. Bởi lẽ trong thời gian này, thị trường cần một lượng lớn hương để chuẩn bị cho dịp Tết nguyên đán”.

Ông Phạm Khắc Ngọc, trưởng thôn 6 cho biết: Dù không phải nghề truyền thống nhưng nghề làm hương ở Kiền Bái đã có hơn 20 năm nay. “Lúc đầu chỉ một số người trong làng làm hương nhưng dần dần nó đã trở thành nghề chính của rất nhiều hộ. Đến nay xã đã có khoảng 60 hộ sản xuất hương quanh năm” – ông Ngọc nói.

Sản xuất hương thơm ở Kiền Bái có nhiều loại nhưng loại phổ biến nhất có lẽ là hương se. Theo bà Lâm, cách làm hương se không khó: chỉ cần trộn bột hương được xay nhuyễn từ  nhiều loại hương liệu, gồm các thứ như: bột hương bài, quế, thuốc bắc với nước keo… Sau đó, lấy chân hương quấn bột, se lại với bột khô rồi đem phơi. Thứ tạo nên mùi thơm đặc trưng là hương liệu. Tuy nhiên, mỗi người lại có bí quyết pha trộn hương lieu riêng, không thể tiết lộ với người ngoài. Phối trộn nguyên liệu xong thì đến khâu se hương. Khâu này yêu cầu người làm phải thực hiện động tác nhanh, gọn mới làm ra được những nén hương có độ đồng đều về kích cỡ, lượng nguyên liệu sử dụng, thân hương nhẵn, khô, độ dính kết cao.

Cách làm đơn giản là vậy nhưng để nén hương thắp lên, có mùi thơm đặc biệt, cháy hết nén và xoắn vòng lộc, người làm hương phải chọn lựa nguyên liệu rất kỹ. Đầu tiên là chân hương. Đó phải được làm bằng loại tre, nứa ngâm được trẻ nhỏ, đều tăm tắp, có vậy mới dễ cháy. Tiếp đến là bột hương được nghiền từ cây hương bài. Hầu hết các hộ sản xuất hương ở Kiền Bái đều phải đến tận các tỉnh như: Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang… thu mua rồi đem về phơi khô, nghiền nhỏ. Ngoài ra, mỗi que hương thường có thêm thành phần nhất định từ nhiều loại dược liệu khác nhau như đại hoàng, mộc hương,cam thảo, đinh hương… Tất cả tán thành bột mịn, pha trộn với nhau theo tỉ lệ nhất định.

Có thể nói, hương được tiêu thụ quanh năm, vả lại thị trường tiêu thụ rộng lớn. Do vậy, mấy năm nay nhiều hộ ở Kiền Bái có thu nhập khá, thậm trí không ít gia đình trong làng giàu lên từ làm hương. Thế nên, chuyện xây nhà cao tầng, mu axe ô tô từ làm hương của nhiều gia đình ở Kiền Bái không còn là chuyện hiếm. Gần đây, một số hộ sản xuất hương trong làng đã mạnh dạn đầu tư đến khâu đóng gói, in nhãn mác để tạo thương hiệu. Anh Bùi Hoàng Thăng, chủ cơ sở hương thơm Hồng Ngọc ở thôn 6 vui mừng cho biết: Mỗi vụ, gia đình anh làm khoảng 4 tấn hương, tạo công ăn việc làm cho hơn 15 lao động theo thời vụ thu nhập bình quân từ 2-2,5 triệu đồng/người/tháng. Hàng làm ra được cơ sở của anh xuất đi Hà Nội, Hải Dương, Thừa Thiên – Huế, vào TP. Hồ Chí Minh, thậm chí ra cả nước ngoài.

Làng đúc Mỹ Đồng, Thủy Nguyên

Với công trình xây dựng mới tuyến vỉa hè đường 352, trung tâm xã Mỹ Đồng (Thủy Nguyên) sáng đẹp hẳn lên, ai đi qua cũng có cảm giác đây là phố nghề. Những dãy nhà khang trang, trụ sở các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, nhà xưởng quy mô lớn dọc theo trục đường 352...Không chỉ nổi tiếng khắp cả nước với nghề đúc truyền thống, Mỹ Đồng còn là điểm sáng của huyện Thủy Nguyên trong xây dựng nông thôn mới theo hướng CNH, HĐH.

Theo Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã Mỹ Đồng Nguyễn Văn Huy, 10 tháng năm 2010, giá trị ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ toàn xã đạt hơn 500 tỷ đồng, tăng 50% so với cùng kỳ năm 2009. Một con số không nhỏ so với một địa phương cấp xã. Mỹ Đồng tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, chỉ đạo thực hiện tốt nội quy, quy chế làm việc, tiếp dân, giải quyết nhanh chóng các thủ tục liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp theo cơ chế “một cửa”, ISO-9001-2000 và Đề án 30 của Chính phủ.

Phố nghề Mỹ Đồng luôn đỏ lửa tạo sức sống mới cho cả một vùng quê phía Tây Bắc Thủy Nguyên. Từ một địa phương nghèo, kinh tế kém phát triển, những năm gần đây, Mỹ Đồng từng bước vươn lên, trở thành lá cờ đầu của huyện Thủy Nguyên trong phát triển kinh tế, xây dựng làng nghề truyền thống. Người dân Mỹ Đồng hôm nay kế thừa, sáng tạo, đưa nghề đúc kim loại thành ngành kinh tế chính của địa phương. Mức tăng trưởng kinh tế bình quân của xã đạt khá cao trong khối xã, thị trấn của Thủy Nguyên (15-20%/năm), trong đó thu nhập từ tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm 95%. Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, cả xã có khoảng 10 hộ dân đúc gang, đồng, nhôm, quy mô nhà xưởng nhỏ bé, nay, toàn xã có gần 100 hộ đúc gang, 15 hộ đúc đồng, hàng chục xưởng cơ khí, rèn, dịch vụ đi kèm.

Bí thư Đảng ủy xã Mỹ Đồng Nguyễn Văn Huy cho biết: Xã phát triển làng nghề theo hướng đa dạng, nhưng lấy nghề đúc, cơ khí làm chủ đạo. Với sự chỉ đạo kịp thời của xã, sự năng động của người dân làng nghề mà sản phẩm của Mỹ Đồng có mặt tại các thị trường trong nước, nước ngoài. Các sản phẩm trang trí hoa văn, bếp nướng, nắp ga, cột đèn bằng gang đúc được chủ công trình xây dựng ưa dùng, xuất khẩu sang các nước… Nhiều mặt hàng đúc, cơ khí đạt chất lượng cao cung cấp cho ngành đóng tàu, lắp ráp xe máy, cơ khí chính xác như chân vịt tàu thủy, bạc biên, tăng bua, vỏ mô-tơ điện, máy bơm, chân máy khâu, khung xe máy. Những năm gần đây, sản lượng ngành đúc đạt hơn 20 nghìn tấn/ năm, giá trị sản xuất đạt khoảng 500 tỷ đồng, thu hút gần 3000 lao động địa phương và các nơi. Thu nhập của người lao động 2,5-3 triệu đồng/ người/ tháng.

Kinh tế phát triển tạo điều kiện cho lĩnh vực văn hóa, xã hội chuyển biến mạnh mẽ. Hầu hết số người trong độ tuổi lao động, nhất là thanh niên có việc làm ổn định, xã không có tệ nạn trộm cắp, tình hình an ninh trật tự giữ vững. Nhờ vậy, khách hàng từ các nơi đến Mỹ Đồng đều yên tâm. Đời sống văn hóa tinh thần người dân đổi mới từng ngày. Hệ thống loa truyền thanh vừa tiếp âm Đài tiếng nói Việt Nam, vừa thường xuyên tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, thành phố, huyÖn đến từng nhà dân, nhất là tuyên truyền về Đại hội Đảng các cấp. Sự nghiệp giáo dục của xã phát triển cả quy mô lẫn chất lượng. Từ năm 2001, xã hoàn thành phổ cập bậc tiểu học và THCS, hiện đã hoàn thành phổ cập bậc phổ thông trung học và nghề. Đây là cơ sở quan trọng để xã phát động phong trào thi đua xây dựng làng văn hóa với 100% số gia đình tham gia xây dựng quỹ làng, thực hiện tốt hương ước làng văn hóa. Cả 2 thôn Đồng Lý, Phương Mỹ đều đạt chuẩn “Làng văn hóa cấp huyện”. Các hộ dân thi đua thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” với 100% số gia đình đạt chuẩn văn hóa được biểu dương. Các hộ dân Mỹ Đồng giàu lên từ lao động chính đáng,  luôn phát huy tốt truyền thống tình làng nghĩa xóm. Khu phố Mỹ Đồng với những tòa nhà cao 4-5 tầng, bề thế có nhiều nhà tình nghĩa được xây dựng giúp đỡ gia đình chính sách nghèo.

Với những thành tích xuất sắc trong phát triển kinh tế,  văn hóa xã hội, nhiều năm qua, Mỹ Đồng được UBND thành phố tặng bằng khen, cờ thi đua, trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia. Đảng bộ xã được công nhận “trong sạch vững mạnh”, được Thành ủy tặng cờ thi đua xuất sắc 5 năm liền. Phần thưởng cao quý Huân chương Lao động hạng nhì mà Nhà nước tặng thưởng Mỹ Đồng là niềm khích lệ toàn xã đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới theo hướng CNH,HĐH. 

 

Làng cau Cao Nhân

Tự hào thay huyện Thuỷ Nguyên có Cao Nhân, nơi ngàn vườn cau hội tụ thành rừng, ngun ngút xanh phủ từ đường thôn đến ngõ xóm, từ mép ruộng tới bờ hiên. Xã Cao Nhân có 1200 hộ dân thì tất cả ngần ấy hộ đều trồng cau, nhà ít hàng trăm, nhà nhiều ngót vạn, san sát xoè tán lá hứng trọn tinh hoa của đất kết thành những buồng cau căng mọng, đem cái hồn Cao Nhân chăm chút cho tình duyên biết bao đôi lứa.

Người dân ở đây cho biết: trồng cau cũng chẳng mấy vất vả, cứ chọn giống ươm cây, rồi những đêm trăng vằng vặc kéo võng ra mắc lên cau mẹ để ngắm cau con trưởng thành. Cau bói đơm hoa, hương ngan ngát lan toả khắp các vùng lân cận, nếu thuận gió thuận mưa, cau không bị bung thì người Cao Nhân lại có thêm của ăn của để.

Trời thu về man mác, buông xuống từng làn gió dìu dịu, cau Cao Nhân như bà mối son tay, se kết tơ vương cho trai tài gái sắc. “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, lá trầu quả cau là lựa chọn trước tiên cho phép tắc các nghi lễ cổ truyền ở Việt Nam, bởi vậy, vào mùa cưới cau Cao Nhân lại theo thương lái, đến khắp mọi vùng.

Dẫu ngày nay thế hệ những người nhuộm răng đen ăn trầu chẳng còn nhiều, nhưng trái cau vẫn giữ một vị trí trong đời sống tinh thần người dân Việt. Bởi thế Cao Nhân không chỉ như một vùng sinh thái mà còn là nơi bảo tồn một giá trị văn hoá mang đậm bản sắc Việt Nam.

                                                                                                                Sưu tầm



 

 

 

 

 

 

TIN MỚI NHẤT
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
  image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tháng: 0
  • Tất cả: 0